Lão doanh nhân vượt lên những giông bão của lịch sử

30/05/2018 09:10

(kbchn) - Bà không hẳn là doanh nhân thành đạt, bà cũng không phải là người nổi tiếng, bà chỉ là một doanh nhân bình thường đã “rửa tay gác kiếm”. Điều đáng nói ở đây là bà từng là tiểu thư con nhà tiểu tư sản, đối tượng bị vùi dập không thương tiếc thời cải cách ruộng đất để rồi bà vượt lên tất cả những khốc liệt của lịch sử để hội nhập và trở thành một doanh nhân, tạo dựng cho mình một cuộc sống khá giả và làm giàu cho bản thân và gia đình.

Đó là cụ bà Phạm Thị Nguyệt, một phụ nữ nhỏ nhắn năm nay vừa tròn tuổi 80.

Cụ bà Phạm Thị Nguyệt với Pv. Hồ Mai

  1. Nhà số 9, ngõ 445, đường Hoàng Quốc Việt

Mr. Hoài nhắn địa chỉ, con số khá ấn tượng, tôi nhớ mãi địa chỉ ấy. Chín giờ kém ngày cuối tuần nắng lung linh chúng tôi có mặt. Đó là ngôi nhà bốn tầng mặt tiền khá rộng được sơn màu lá cây đã phai màu ắt phải được xây dựng cách đây một vài thập niên. Dù chưa hẳn cũ kĩ nhưng kiến trúc hiện đại, thông thoáng khá giản đơn.

Cánh cổng sắt đóng chặt, chúng tôi bấm chuông, từ trên lầu nhìn xuống có người ra nói vọng xuống: cháu chờ cụ một xíu, một phút sau, cụ trở xuống mở cửa.

Cụ bà dáng hình nhỏ nhắn, bận chiếc áo hoa màu tím đen, mái tóc búi gọn ngả đều màu bạc trắng. Ngoài hiên, hai cây hoa mai chiếu thủy rợp bóng mát và tỏa ra một mùi hương dịu nhẹ. Cụ dẫn chúng tôi lên lầu trên, phòng khách khá rộng rãi với đồ đạc hầu như bằng gỗ: sàn gỗ, bộ bàn ghế gỗ, tủ gỗ, đồng hồ treo tường bằng gỗ và cả những bức tranh phong cảnh treo tường. Nhìn thoáng qua, phòng khách có tượng Chúa Jesus chịu nạn trên thánh giá, bức tranh nổi tiếng “Bữa tối cuối cùng” của danh hoạ Leonardo Da Vinci vẽ chúa Jesus và 12 môn đệ… Hẳn chủ nhân là con chiên ngoan đạo Thiên Chúa.

Trong khi chủ nhân lịch kịch pha trà mời khách, đảo qua căn phòng, chúng tôi dừng lại ở tủ kính, phía trong là hình người phụ nữ trong tấm ảnh đen trắng đã ngả màu nhưng vẫn còn lưu lại ánh mắt sáng, gương mặt tròn, đường nét mềm mạn và duyên dáng vô cùng.

Là những người thuộc thế hệ con cháu, nhưng qua sách báo, đặc biệt là qua những câu chuyện của những thế hệ đi trước, chúng tôi hiểu được sự khốc liệt của chiến tranh, đặc biệt là thời chống Mỹ. Trong thời đó, khu bốn được coi là chảo lửa, nơi hứng chịu những trận bom khủng khiếp của quân đội Mỹ. Trước mặt chúng tôi là nhân chứng sống của cuộc chiến khốc liệt ấy.

Sinh năm 1938 trong một gia đình Công Giáo, học trường dòng, có chị gái theo chồng vào Nam hồi 1954, cụ Phạm Thị Nguyệt đã chứng kiến hết bao nhiêu tang thương của chiến tranh và cuộc đời uất ức, đẫm nước mắt vì chịu định kiến nhẫn tâm của xã hội thời bấy giờ.

  1. Kẻ Sặt- thị trấn cổ nhất miền Bắc

Trước đây, mỗi khi nói về Kẻ Sặt là nói đến đất của người Công Giáo, cùng những thăng trầm biến động theo thời gian. Kẻ là chữ có nghĩa xác định một vùng đất nhất định, còn Sặt là tên gọi của vùng đất đó. Từ Hà Nội xuôi về phía đông chừng bốn chục cây số, tới ngã ba Quán Gỏi, thuộc huyện Bình Giang- Hải Dương rẽ phải hơn cây số, đi qua cầu Sặt là thị trấn Kẻ Sặt.

Nhà thờ Kẻ Sặt, công trình tôn giáo có lịch sử hơn 400 năm

Ít ai biết rằng thị trấn nhỏ nhắn nằm lọt thỏm giữa vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng này lại có lịch sử hơn 400 năm. Từ thế kỷ XVI, các thuyền buôn từ phương Tây vào Vịnh Bắc bộ, qua cửa khẩu Ba Lạt ngược sông Hồng về Phố Hiến rồi về Kẻ Sặt.

Thời thuộc Pháp ngôi làng ấy đông đúc và sầm uất vô cùng. Bà nội của cụ Phạm Thị Nguyệt là thương gia nổi tiếng ở Sặt. Và người làng Sặt có tiếng làm ăn buôn bán giỏi. “Người xưa sống kỉ luật lắm” – cụ bồi hồi kể lại, muốn theo làng Kẻ Sặt sinh sống thì phải theo đạo, có người đỡ đầu mới được xây nhà, dựng cửa. Nhưng cho đến năm 1946 khi Chính phủ Hồ Chí Minh phát động toàn quốc kháng chiến, sự giàu có của Kẻ Sặt đã biến mất.

Với chính sách tiêu thổ kháng chiến, chính phủ Việt Minh ra lệnh cho mỗi người ở làng phải rời làng tản cư. Trước khi đi phải phá sập nhà cửa, lương thực được trưng dụng cho kháng chiến. Ai có đồ đạc quý giá phải chôn xuống hầm. Nhà cụ có 3 con hạc, hai con bằng vàng và một con bằng đồng đen, khi đi chôn xuống đất. Hết chiến tranh trở về tìm lại thì đã mất. Những người giàu có sau chiến tranh trở về đều trắng tay.

Trước khi tản cư lên Hà Nội, cụ Nguyệt học ở trường dòng ở thị trấn Kẻ Sặt. Trường này nằm sát ngay bên trái khuôn viên Nhà thờ. Trường chuyên về đào tạo và dạy học cho các tín đồ Thiên chúa giáo. Trường có nhiều lớp, từ dạy chữ quốc ngữ đến kiến thức phổ thông và chuyên sâu về giáo lý, giáo luật, những nguyên tắc ứng xử trong đời sông....

Cùng với việc học chữ, lúc rảnh cụ học piano, học nữ công gia chánh. Trường dòng đã trang bị cho cụ những kiến thức đầu đời rất quan trọng nhưng chuyện đã từng học ở trường dòng lại là một vật cản trong các chặng đường hội nhập với đời sống của những người cộng sản thời chiến tranh.

Sinh năm 1938 trong một gia đình Công Giáo, học trường dòng, có chị gái theo chồng vào nam hồi 1954, cụ Phạm Thị Nguyệt đã chứng kiến hết bao nhiêu tang thương của chiến tranh và cuộc đời uất ức, đẫm nước mắt vì chịu định kiến nhẫn tâm của xã hội thời bấy giờ.

Sơ tán lên Hà Nội, cụ tiếp tục học rồi đỗ điểm cao thứ hai toàn thủ đô. Nhưng chiến tranh khốc liệt quá, người ta bắt cả học sinh vào công trường.

  1. Đội thu thập vật liệu đường sắt

Năm 1956, khi miền Bắc bước vào công cuộc cảo cách ruộng đất khốc liệt, cô nữ sinh trường dòng năm nào đứng trước một tương lai đầy bất ổn. Để có một chỗ đứng trong xã hội, điều kiện cần trước hết phải là thành phần bần cố nông, giai cấp vô sản. Ai đó đã trót sinh ra trong gia đình địa chủ hoặc tiểu tư sản sẽ rất mịt mùng và có nguy cơ bị vùi dập không thương tiếc.

Năm đó, cụ chưa đủ 18 tuổi, để tìm một chỗ đứng trong xã hội, cụ nhờ người sửa hồ sơ để được gia nhập đội thanh niên xung phong. Thấy lý lịch cụ đã qua trung học nên họ cho cụ đi dạy. Năm 1956, cụ trở lên Lạng Sơn gia nhập Đội thu thập vật tư ngành đường sắt.

Cũng cần phải nói thêm một chút về đội quân này.

Tháng 12/1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam bắt đầu. Ngay những ngày đầu kháng chiến thần thánh, với tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, khắp nơi trên cả nước, những con đường, cây cầu, bến cảng, nhà máy trở thành cứ điểm chiến đấu của quân và dân ta.

Người Pháp cậy có vũ khí tối tân, được người Mỹ giúp sức, chúng tin rằng việc thôn tính Việt Nam chẳng khó khăn mấy. Âm mưu của chúng là “đánh nhanh, thắng nhanh” và càng nhanh càng tốt. Trước sự tương quan lực lượng, Chính quyền cách mạng của Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân tiêu thổ kháng chiến, lấy nông thôn bao vây thành thị, và đã tổ chức lại mọi lực lượng sản xuất và chiến đấu.

Với tinh thần đó, toàn dân đã tham gia phá hoại đường sá, cầu cống, các đường dây thông tin liên lạc để cản trở giặc Pháp, không cho chúng thực hiện “đánh nhanh, thắng nhanh”. Đồng thời nhiều nhà máy cơ khí sửa chữa giao thông được lệnh di chuyển máy móc ra vùng an toàn, thứ nào không mang đi được thì phá hủy, không để lọt vào tay quân giặc.

Một số phương tiện được cải tiến như biến đầu máy xe lửa thành nồi hơi chạy máy phát điện, biến máy ô tô thành máy nổ chạy máy phát điện.

Năm 1954, Hoà bình đã được lập lại ở miềm Bắc, sau khi quân Pháp rút về nước, Chính phủ miền Bắc chủ trương khôi phục lại cơ sở hạ tầng đã từng bị tàn phá trong chiến tranh. Nhiệm vụ này được giao cho ngành Giao thông vận tải là khôi phục lại hệ thống giao thông đã bị phá hỏng trong Kháng chiến chống Pháp để phục vụ phát triển kinh tế miền Bắc và chi viện cho chiến trường miền Nam.

Đội thu thập vật liệu đường sắt được thành lập trong thời kỳ đó với chức năm là tìm kiếm, thu thập những vật tư vật liệu đã bị tháo dỡ từ hồi tiêu thổ kháng chiến để khôi phục lại ngành đường sắt phục vụ cho việc vận tải trong thời kỳ mới.

Năm 1957, cụ Nguyệt vào Quảng Bình và 1958 trở ra Nghệ An, phục vụ tại đơn vị chính. Tại đây, cụ là kế toán của đội thu thập vật liệu đường sắt, sau đó sáp nhập công ty 103 của cục vật tư bộ giao thông, với nhiệm vụ cung cấp vật tư cho băng xây dựng số 7, đoàn 559.

  1. Mười năm ở chảo lửa thành Vinh

Chiến tranh của những năm 1964, 1965 quá ác liệt. Cụ kể lại, hôm đi từ ngân hàng Nghi Lộc về, trên chỗ gần cầu Phương Tích, nghe tiếng còi báo động có máy bay bỏ bom, cụ vội vàng bỏ xe đạp xuống rãnh, lấy dây khoai lang 2 bên che lấp rồi nằm luôn xuống rãnh. Nhìn lên trời, cụ không thể đếm nổi chỗ bom chúng thả xuống, tiếng rít rít nghe kinh lắm, gần kề lắm, bom lao phập vào người y hệt lao vào chính người cụ. Hầm đào ngay dưới gầm bàn, chỗ làm việc của cụ, có hôm Mỹ ném bom, cụ bỏ cả tập giấy tờ lao xuống, lúc trở lên, chiếc ghế đã nát tươm, mảnh bom bằng bàn tay, văng qua ghế, văng qua tường bên kia, rồi vướng lại đấy, nếu không xuống hầm kịp có lẽ lúc ấy cụ đã bị chém ngang. Trong chiến tranh, mạng người mất hay còn được định đoạt trong tích tắc.

Hồi cơ quan sơ tán ra Quán Hành, trên chuyến xe có 4 người đi, lúc đó trời cũng không muộn lắm nhưng chúng đánh bom sớm hơn thường lệ. Và chúng đánh trúng chiếc xe ấy, cả 4 người trên xe đều chết. Trong đó có hai cái chết vô cùng thảm thương và đau đớn khiến cụ nhớ mãi. Một chiếc đùi của cô Túc bị chặt ngang lìa thân, một cánh tay bị đứt lìa chẳng thấy đâu, ai cũng nghĩ nó bị nát vụn ra rồi. Người ta đưa cô vào bệnh viện sơ tán Nghi Thuận để cấp cứu, chỉ còn một chân và một tay. Chiếc chân rời ra được mang đến nhà xác, người ta đậy chiếc lồng bàn lên. Cô Túc trẻ lắm, mới 20, 21 tuổi thôi, chiều hôm ấy, người ta chôn cái chân trước. Đúng như dự đoán, 2 hôm sau, cô ấy chết, người ta đào mộ chôn chiếc chân lên để chôn thi thể cô.

Ngỡ tưởng mọi thứ đâu vào đấy, một tuần sau, ngôi làng nơi 4 người trong cơ quan cụ chết báo cáo lên đơn vị rằng có cánh tay treo trên cây. Cánh tay bị đứt lìa văng lên trời, vướng vào cành cây, đàn quạ đói đến rất đông, dân chúng thấy lạ nhìn lên mới biết đó là cánh tay còn lại của cô Túc. Một thanh niên trèo lên thì cánh tay đã bị rỉa thịt nham nhở, bốc mùi. Họ mang cánh tay về, đào mộ cũ của cô Túc lên chôn tiếp một phần thi thể. Cuộc an táng cho người xấu số phải đào lên lấp xuống 3 lần mới xong…

Lão doanh nhân nhớ lại và suy ngẫm vê một giai đoạn lịch sử

Cụ kể tiếp: Một cái chết nữa cũng khiến tôi ám ảnh mãi là cậu Mạch, làm tại phòng cung cấp, người Hà Nội, anh cao xấp xỉ 2 mét. Bom trút xuốn quá nhanh, anh không kịp xuống hầm, đầu của anh bị mảnh bom hớt gọn. Lúc khâm liệm anh vào quan tài vẫn thiếu phần đầu…

“Tôi và cậu Mạch thân nhau lắm, một người ở phòng kế toán, một người ở phòng nghiệp vụ, cả hai luôn hỗ trợ nhau.” Thấy cô Túc và cậu Mạch chết thảm như vậy, cụ mới thử xem đêm về có nằm mơ không. Thế mà, đêm đó, cụ nằm mơ thấy Mạch về thật. Cụ mới bảo:

“Mạch này, nắng vậy sao không đội mũ?”

Anh mới chỉ lên đầu. Cụ giật mình. Hóa ra mình nằm mơ, và cụ cũng chỉ mơ thấy lần đó thôi. Sau này, có tang thương đến đâu, cũng chả nằm mơ thấy điều gì nữa.

Năm 1966 bom đạn ác liệt quá, cụ đã phải chứng kiến cái chết thương tâm của cô Kiều. Cô Kiều là người lai Pháp, cao to, da trắng, mũi cao, rất xinh đẹp. Hồi đó cô có con nhỏ chừng hơn tuổi. Máy bay Mỹ từ hạm đội 7 ngoài biển đổ vào. Nghe tiếng kẻng báo động, cô bế con xuống hầm nhưng vì cửa hầm hẹp, lại vướng đứa con nên cô dính ngay mảnh bom xuyên vào sườn, máu tràn lênh láng khi trong tay vẫn bế chặt đứa con nhỏ khóc thét. Không lâu sau đó cô Kiều qua đời để lại đứa con thơ bơ vơ.

Chiến tranh khốc liệt thấy nguy hiểm đến tính mạng, trước hết là cho con nền không thể yên tâm để con lại trong cái chảo lửa ấy. Năm 1966, bà cho ông đưa các con ra Hà Nội sống cùng bà ngoại với các con của Dì, sơ tán tại làng Phù Đổng huyện Gia Lâm.

Mấy năm trời ở cái chảo lửa ấy, ngày làm nghiệp vụ ở cơ quan, đêm đi lấp hố bom và thu thập xác đồng đội xấu số. Không chỉ nhiệt tình trong công tác xã hội, cụ còn là người có nghiệp vụ kế toán giỏi nhất cơ quan. Ngày Bộ Giao Thông tổ chức thi kế toán giỏi và kế toán trưởng giỏi, cụ đều ẵm giải. Trong nghiệp vụ hay công tác xã hội, cụ đều hết sức nhiệt tình và hết mình.

Với xí nghiệp thu thập vật tư đường sắt lúc này không chỉ là thu gom vật tư lưu tán trong dân thời chiến tranh mà còn tiếp nhận vật tư viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc. Xí nghiệp có bảy kho đóng rải rác ở các địa bàn trong dân. Mỗi ngày, cứ gần 1000 mặt hàng ra vào nườm nượp, ban ngày đã vất vả mà ban đêm vẫn phải lao động lấp hố bom.

Trong một buổi tối tham gia với đoàn thanh niên, lúc nghỉ giải lao cụ gặp ông cục trưởng Trương Văn Giàu. Ông này người Nam Bộ tập kết ra bắc, một người đức độ, giỏi giang. Vào Nghệ An thăm các đơn vị cơ sở, ông trực tiếp tham gia lao động với anh em. Một hôm, vào lúc mọi người giải lao ăn cháo bồi dưỡng ca đêm ngồi bên cụ, ông Cục trưởng ôn tồn hỏi thăm hoàn cảnh gia đình. Nghe xong, ông bảo:

“Bác vào đây, thấy chuyên môn cháu cũng giỏi mà việc xã hội cũng giỏi, nhưng khi đề bạt cháu, mọi người lại không đồng ý? Bác muốn hỏi gia đình cháu như thế nào?”

Cụ bất ngờ lắm, vì một cán bộ cấp cao như thế mà còn quan tâm đến mình. Cụ mới trút hết uất ức ra, vừa kể vừa khóc:

“Cháu sinh ra ở làng Sặt, đó là ngôi làng Công Giáo. Trước, bà cháu là một thương gia giỏi, bà cống hiến cho kháng chiến bao nhiêu vàng bạc chứ không ít gì. Sau lệnh tiêu hủy kháng chiến, nhà cháu mất sạch trơn, bây giờ đi làm, người ta định kiến bởi lý lịch cháu khai. Thứ nhất, nhà cháu không phải bần cố nông, nhà cháu là tiểu tư sản; thứ 2, nhà cháu theo đạo Thiên Chúa, và có bà chị ruột lớn lên 19 tuổi theo chồng vào miền nam. Chỉ 3 cái đó thôi đã khiến người ta dị nghị và định kiến. Nhưng lớn lên, cháu đâu còn được hưởng cái sung sướng của gia đình nữa, mà họ gán những cái đấy để không đề bạt cháu. Vì cháu không phải là đảng viên.”

Hôm đấy trăng sáng, vừa kể xong, cụ thấy ông ấy chớp mắt liên tục như đồng cảm được nỗi khổ của cụ. Ông liền bảo:

“Mai bác về Hà Nôi, bác hứa với cháu là một tháng sau, cháu có quyết định về Hà Nội với con cháu. Để công việc trong này cho đảng viên người ta cống hiến.”

Đó năm 1969, sau hơn 10 năm gắn với dải đất miền trung chảo lửa, cụ được trở về Hà Nội gặp gỡ các con và chăm sóc chúng.

  1. Đoàn tụ gia đình

Trở về Hà Nội, ông Giàu đề bạt cụ làm kế toán trưởng cho đoàn xe 20, sau đó chuyển về 412. Sinh ra trong gia đình không phải bần cố nông, xã hội lúc bấy giờ lại luôn có định kiến với người giàu. Cụ Nguyệt dẫn hai câu thơ của Hoàng Minh Tường ra để bộc bạch:

Đất Việt lưng còng dáng Mẹ

Xót xa muôn kiếp Lạc hồng

Chiến tranh kết thúc, chính quyền miền Bắc tập trung xây dựng kinh tế để thống nhất đất nước nhưng chỉ vì theo đuổi một học thuyết từ phương Tây, người ta vẫn định kiến với người giàu.

Dẫu rằng, trong chiến tranh, những người giàu cống hiến lương thực, tiền vàng nuôi các cơ sở cách mang, cưu mang bộ đội. Cụ bồi hồi nhớ lại câu chuyện về người đàn ông cụ yêu nhưng không nên duyên vợ chồng. Ông có dòng dõi địa chủ, tên Nhận. Hồi sinh đứa con đầu lòng, ông Nhận có vào thăm cụ và nói:

“Anh nói em nghe, việc lấy chồng, lấy vợ là quyền tự do của một người, là lựa chọn của em. Em nhớ, mâu thuẫn giai cấp đã sâu sắc như vậy mà em lại để nó xảy ra ngay chính trong lòng mình.”

Mỗi lần nhớ câu đó, cụ lại không chịu được.

Năm 1960, cụ lấy ông Nguyễn Văn Hồng, người sinh ra trong gia đình nông dân ở Yên Mỹ. Cụ hạ sinh 4 người con nhưng đứa con thứ 2 bị chết khi chưa tròn 6 tháng.

  1. Làm kế toán trưởng ở đất Lào

Đầu thập niên 90 thế kỷ trước, nước bạn Lào được cộng đồng quốc tế cho vay vốn ODA để phát triển hạ tầng giao thông. Trong số đó có việc nâng cao tuyến đường bộ từ: Vientiane đi cố đô Luang Prabang.

Nay đoạn đường này dài hơn 300 cây số, bạn có thể tới đây bằng xe bus trong vòng 8 tiếng đồng hồ, chất lượng đường khá tốt nhưng thời đó thì gian nan vô cùng.

Tháng 3/1992, theo lời khuyên của một ông Tổng giám đốc Công ty liên doanh xây lắp đường bộ, cụ qua Vientiane, Lào tham gia đội quân làm đường. Quãng thời gian 6 năm ở Lào xa gia đình, gian nan vất vả nhưng là thời điểm cụ hạnh phúc nhất và thành công nhất.

Nguồn vốn xây dựng đường chủ yếu là vốn ODA của Nhật Bản, Việt Nam giúp bạn bằng các gói thầu xây lắp. Hồi đó tiếng là mình có vốn đối ứng nhưng thực tế chỉ có nguồn nhân lực và một số thiết bị thi công, còn tiền mặt thì được giải ngân bằng đô la, tiêu trên đất Lào thì dùng tiền kip.

Người dân Lào thân thiện và tử tế, họ thật thà, có sao nói vậy và không sai bao giờ. Cụ còn có một người con nuôi bên đó. Người ta tặng cụ những món quà rất đẹp.

Với các công ty xây lắp, kế toán trưởng không thỉ thuần tuý lo việc ghi chép sổ sách, hạch toán thu chi mà còn hơn thế. Thời đó ở Lào, kế toán trưởng hoạt động như một giám đốc tài chính là cánh tay đắc lực của Tổng giám đốc, đặc biệt là trong việc thu xếp các nguồn vốn cho thi công.

Về mặt hình thức, doanh nghiệp Việt Nam phải có vốn đối ứng khi nhận thầu nhưng trên thực tế gần như không có vốn lưu động. Mọi nhu cầu chi tiêu như lương công nhân, các chi phí vật tư vật liệu, phụ tùng cho máy móc thiết bị đều phải vay ngân hàng.

Việc vay mượn nếu có dự án, có báo cáo tài chính, có tài sản thế chấp… và những điều kiện cơ bản của luật tín dụng thì khỏi bàn, nhưng những điều kiện đó mình không đáp ứng được. Để có thể tiếp cận được các nguồn vốn ngân hàng buộc phải có quan hệ tốt với họ, tạo được niềm tin thì mới có thể tranh thủ được nguồn vốn này.

Cụ không chỉ làm tốt việc kế toán mà còn giao tiếp với ngân hàng rất tốt, thuở đó cụ nói tiếng Anh chưa sõi, cứ hễ mỗi ngày lại nhét vào túi áo vài ba từ để học thuộc. Hoàn thành việc của Công ty, thời gian rảnh cụ làm các dịch vụ với người bản địa để có thêm thu nhập.

Quản lý dòng tiền rất lớn với hàng ngàn công nhân nhưng cụ không tơ hào của công lấy một đồng. Cùng với thu nhập chính bằng đồng lương, cụ nghĩ ra nhiều việc làm thêm.

Giải ngân vốn ODA bằng đồng đô la nhưng khi tiêu ở Lào thì bằng tiền Kip, địa điểm thi công lại xa thành phố, vậy là cụ nghĩ ngay ra dịch vụ ngoại hối, trao đổi ngoại tệ. Những công nhân người Việt khi về nước có nhu cầu đổi từ tiền Kip ra đô để mang về quê. Giải ngân vốn ODA muốn tiêu trên đất Lào thì phải đổi ra tiền Kip, cứ như thế, dịch vụ đổi tiền đã mang lại cho cụ những khoản thu nhập còn lớn hơn cả tiền lương.

Một thương vụ nữa có thể kể đến là chuyện buôn xe máy từ Lào. Lào có nhiều cửa khẩu thông thương với Thái Lan, cả chính ngạch lẫn tiểu ngạch. Chính phủ Lào có chính sách mở cửa rất sớm nên cho phép nhập mọi mặt hàng từ nước láng giềng. Một trong những mặt hàng được người Việt ưa thích là xe máy.

Trong những năm 90 thế kỷ trước, ở Việt Nam xe máy được coi như là một mặt hàng xa xỉ, cao cấp, biểu hiện của sự giàu sang, thành đạt. Một số người đi xuất khẩu lao động từ Đông Âu vê nước mang theo con Minsk với tiếng nổ đinh tai đã là oách lắm rồi. Những người đi Đức về khá hơn có con Sinson với kiểu dáng đẹp hơn. Simson xuất hiện giống như một chiếc xe hơi sang trọng, trở thành giấc mơ của không biết bao nhiêu thanh niên Việt Nam trước thời mở cửa.

Simson có lẽ khá hiếm vì không được nhập khẩu một cách đường hoàng mà phải theo đường “xách tay” của những người đang theo học hay lao động tại Liên Xô, Đông Đức hay Tiệp Khắc để vào nước. Simson có bốn màu phổ biến là xanh nõn chuối, xanh đu đủ, đỏ và trắng. Xe dùng động cơ 50cc, hai thì, chạy xăng pha nhớt và hộp số 3 cấp.

Sinson sang trọng và kiêu hãnh một thời cho đến khi xuất hiện các dòng xe hai bánh của người Nhật. Thoại đầu là các loại xe Cub đời 79, 80 máy cối với “kim vàng giọt lệ rồi Super Cub đời 82 lừng danh.

Đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Honda Dream đã từng là ước mơ của nhiều người giống như tên gọi của nó. Với người Việt thời bấy giờ, chiếc xe Dream phải đáng giá cả gia tài, ngang ngửa một ngôi nhà mặt phố.

Cùng với độ bền của máy móc, động cơ 4 kỳ được làm mát bằng gió với dung tích xi-lanh 97 phân khối và hộp số 4 cấp, kết hợp với kiểu dáng sang trọng cùng sự hiếm có, đắt đỏ đã khiến Dream được ưa chuộng nhất sau Super Cub, trở thành một trong những chiếc xe huyền thoại của hãng xe Honda.

Dòng xe Dream thời đó có nguồn gốc từ Thái Lan được nhập khẩu qua Lào rồi vào Việt Nam. Chính vì sự quý hiểm của xe Dream nên việc đưa xe từ Lào về mang lại lợi nhuận rất lớn. Mỗi người lao động Việt Nam tại Lào khi về nước được quyền mua một chiếc xe thông qua việc cấp tem nhập khẩu vào Việt Nam.

Là đơn vị thi công đường trên đất bạn, Công ty liên doanh cầu đường có vài ngàn công nhân. Những người lao động có tiêu chuẩn mua xe thường không có tiền nên bán lại tiêu chuẩn ấy. Cụ Nguyệt thấy đây là cơ hội nên mua lại tiêu chuẩn của họ rồi thu gom xe máy, đóng thùng gửi qua đường hàng không mang về nước.

Nhờ cách làm này, sau 6 năm làm ăn trên đất Lào cụ tích luỹ được hơn 5.000 đô để về nước mua đất, làm nhà. Ngôi nhà ở Hoàng Quốc Việt mà chúng tôi nói ở phần đầu có tuổi đời xấp xỉ hai thập niên…

Cụ có 4 người con trai, một người đã chết trong chiến tranh, ba người còn lại đã trưởng thành và đều là doanh nhân nối nghiệp mẹ. Ở tuổi 80, cụ không còn tham gia thương trường nữa nhưng vẫn sẵn sàng chia sẻ những câu chuyện nhưng là cách truyền đạt kinh nghiệm sống của một người đã trải qua một thời giông bão.

(Nhóm Pv)

(0) Bình luận

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang